Category Archives: Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nông Nghiệp

Phòng Trừ Bệnh Cà Phê Giữa Mùa Mưa Hiệu Quả

PHÒNG TRỪ CÁC BỆNH GÂY HẠI CÀ PHÊ GIỮA MÙA MƯA

Giữa mùa mưa là giai đoạn cây cà phê và quả phát triển mạnh, nhưng đồng thời cũng là thời điểm nhiều loại bệnh hại phát sinh và lây lan nhanh do điều kiện ẩm độ cao, mưa nhiều làm ảnh hưởng đến sinh trưởng cũng như năng suất và chất lượng cà phê. Dưới đây là các loại bệnh gây hại cho cà phê giai đoạn kinh doanh vào giữa mùa mưa bà con cần phải quan tâm phòng trừ:

1. Bệnh vàng lá, thối rễ

Bệnh vàng lá, thối rễ
Bệnh vàng lá, thối rễ

Dấu hiệu nhận biết:

Triệu chứng: Cây héo dần, lá vàng rụng, rễ bị thối hoặc có nốt u do nấm và tuyến trùng gây hại.

Điều kiện phát sinh: Đất ẩm kéo dài, úng nước, đất chua, nguồn đất bị nhiễm bệnh (tuyến trùng và nấm trong đất với mật độ cao).

Biện pháp phòng trừ:

Canh tác:

  • Làm rãnh thoát nước, không để úng.
  • Bón vôi cải tạo đất (800–1000kg vôi/ha 2–3 năm bón 1 lần).
  • Bón phân cân đối, ưu tiên sử dụng phân hữu cơ.
  • Phun bổ sung dinh dưỡng qua lá.

Sinh học và hóa học:

  • Sử dụng nấm đối kháng Trichoderma trộn vào đất, bón gốc định kỳ.
  • Dùng thuốc gốc Metalaxyl + Mancozeb (Ridomil Gold 68WG) + Movento hoặc Confidor tưới vào gốc. Nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Lưu ý: Tưới vào gốc ít nhất 2 lần cách nhau 10 – 15 ngày. Chỉ xử lý thuốc cây bị bệnh và 4 cây xung quanh cây bệnh.

2. Bệnh rỉ sắt

Bệnh rỉ sắt
Bệnh rỉ sắt

Dấu hiệu nhận biết:

Triệu chứng: Xuất hiện các đốm màu vàng cam mặt dưới lá, sau đó chuyển sang nâu. Lá bị rụng sớm ảnh hưởng đến năng suất.

Điều kiện phát sinh: Ẩm độ cao, sương mù buổi sáng, vườn rậm rạp.

Biện pháp phòng trừ:

Canh tác: Tỉa cành tạo thông thoáng, bón phân cân đối để tăng sức đề kháng.

Sinh học và hóa học: 

  • Sử dụng thuốc gốc Hexaconazole, Propiconazole, Difenoconazole như Tilt Super 300EC.
  • Ghép chồi của các dòng cà phê TR4, TR5, TR6, TR7, TR8… để thay thế cây bị nặng.

Lưu ý: 

  • Phun ướt đều các lá trên cây. Phun kỹ phía dưới mặt lá.
  • Thời điểm phun lần đầu khi cây có khoảng10% lá bị bệnh (thường xảy ra sau khi bắt đầu mùa mưa 2 – 3 tháng), phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
  • Chỉ phun những cây bị bệnh.

3. Bệnh khô cành, khô quả và bệnh thối cuống quả

Bệnh khô cành, khô quả và bệnh thối cuống quả
Bệnh khô cành, khô quả và bệnh thối cuống quả

Dấu hiệu nhận biết:

Triệu chứng: Quả có vết đốm đen lõm vào, lá có đốm nâu hoặc rụng lá non, quả bị rụng nhiều.

Điều kiện phát sinh: Mưa nhiều, vườn rậm, chăm sóc kém, bón phân không cân đối.

Biện pháp phòng trừ:

Canh tác: Vệ sinh vườn, thu gom quả bị bệnh, tỉa cành tạo thoáng. Bón phân cân đối.

Sinh học và hóa học: Dùng thuốc gốc Chlorothalonil, Mancozeb, Difenoconazole như Nativo 750WG, Antracol 70WP.

Lưu ý: Phun 2–3 lần cách nhau 10–15 ngày khi bắt đầu thấy triệu chứng. Nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

4. Bệnh nấm hồng

Bệnh nấm hồng
Bệnh nấm hồng

Dấu hiệu nhận biết:

Triệu chứng: Thường xuất hiện ở trên chóp tán, cành xuất hiện sợi nấm màu hồng cam, sau khô và chết cành.

Điều kiện phát sinh: Mưa kéo dài, độ ẩm cao, ít nắng, nắng mưa xen kẽ, nhiệt độ cao.

Biện pháp phòng trừ:

Canh tác: Cắt tỉa cành bệnh, thu gom ra bờ lô để đốt.

Hóa học: Phun thuốc gốc Copper (gốc đồng), Carbendazim, Mancozeb như Boóc-đô 1%, Tilt Super 300EC. Phun kỹ vào cành bị bệnh 2–3 lần trong mùa mưa. Nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

5. Bệnh thối nứt thân

Bệnh thối nứt thân
Bệnh thối nứt thân

Dấu hiệu nhận biết:

Triệu chứng: Thường xuất hiện ở thân, cành lớn với các vết nứt và thâm/thối đen sau đó vỏ bị bong ra.

Điều kiện phát sinh: Mưa kéo dài, độ ẩm cao, ít nắng.

Biện pháp phòng trừ:

Canh tác: 

  • Rong tỉa cây trồng xen để vườn cây thông thoáng hạn chế nấm bệnh phát triển.
  • Đầu mùa mưa hàng năm (tháng 4 – 5) nên áp dụng biện pháp quét vôi lên thân cây cà phê cách mặt đất 40 – 60 cm để phòng tránh bệnh phát triển và lây lan.

Hóa học:

  • Nếu thấy có các vết thối và nứt trên thân phải tiến hành cạo sạch phần vỏ thân bị bệnh thu gom,tiêu hủy và quét thuốc hóa học lên vết cạo để phục hồi cây. Dùng thuốc hóa học có hoạt chất như: Copper Hydroxide (DuPont™ Kocide® 53.8 WG); Metalaxyl + Mancozeb; Fosetyl Aluminium (Alliette).
  • Thuốc được quét 2 – 3 lần cách nhau 10 – 15 ngày. Nông độ theo khuyến cáo của hà sản xuất.

Hướng Dẫn Chăm Sóc Vườn Cà Phê Đầu Mùa Mưa

CHĂM SÓC VƯỜN CÀ PHÊ KINH DOANH ĐẦU MÙA MƯA

Hiện tại mùa mưa đã chính thức bắt đầu ở Tây Nguyên. Thời kỳ này nhà nông đang quan tâm vấn đề chăm sóc vườn cà phê như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất. Dưới đây là 2 vấn đề cần được quan tâm trong chăm sóc cà phê đầu mùa mưa.

1. Phân bón

Đầu mùa mưa là thời điểm quan trọng để cung cấp dinh dưỡng cho cây cà phê. Sau mùa khô hạn dài và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển quả. Bón phân đúng loại, đúng lượng và đúng kỹ thuật sẽ giúp cây phục hồi nhanh chóng, ra cành dự trữ khỏe mạnh và tăng khả năng phát triển quả.

Loại phân:

Phân hữu cơ: Đây là loại phân nền tảng rất quan trọng, giúp cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu và cung cấp dinh dưỡng từ từ cho cây. Uu tiên sử dụng phân chuồng ủ hoai, phân xanh, hoặc các loại phân hữu cơ chế biến công nghiệp/phân nở có hàm lượng hữu cơ cao >60 %.

Phân vô cơ:

  • Đạm (N): Cần thiết cho sự phát triển của cành lá sau mùa khô.
  • Lân (P): Quan trọng cho sự phục hồi và phát triển của bộ rễ, đặc biệt sau giai đoạn khô hạn cây có thể bị tổn thương rễ.
  • Kali (K): Giúp tăng cường sức đề kháng của cây, chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất lợi.
  • Trung vi lượng: Bổ sung các chất trung vi lượng như Canxi (Ca), Magie (Mg), Silic (Si), Bo (B), Kẽm (Zn)… giúp cây phát triển cân đối và tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng.

Lượng phân:

Lượng phân bón cụ thể sẽ phụ thuộc vào độ tuổi của cây, năng suất vụ trước, năng suất dự kiến vụ năm nay, loại đất và tình trạng sinh trưởng của cây.

  • Phân hữu cơ: 5 – 10 kg/gốc (bón định kỳ hàng năm); hoặc phân nở từ 1 – 2 kg/gốc.
  • Phân NPK: Khoảng 0.5 – 1.0 kg/gốc/lần bón. Tỷ lệ NPK có thể là 16-16-8, 20-15-10; 15-12-7; 20-10-10, hoặc các tỷ lệ cân đối khác phù hợp với giai đoạn phục hồi và sinh trưởng cành lá. Có thể chia lượng phân trên bón thành 2 lần cách nhau khoảng 15 – 20 ngày để tăng hiệu quả sử dụng phân bón, cây cà phê hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.
  • Phân trung vi lượng: Các loại phân chứa Ca, Mg, Zn, B. Lượng sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Kỹ thuật bón phân:

Bón gốc:

  • Đào rãnh theo tán cây , sâu 10-15cm, rải đều phân và lấp đất lại.
  • Bón kết hợp: Có thể kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ cùng một lúc hoặc bón xen kẽ. Nên bón phân hữu cơ trước hoặc cùng với đợt bón phân đầu mùa mưa.
  • Tưới nước sau khi bón:  Sau khi bón nếu đất không đủ ẩm thì  tưới nước giúp phân hòa tan và cây dễ dàng hấp thụ dinh dưỡng.
  • Không bón đón mưa

Bón lá (phun qua lá):

  • Sử dụng các loại phân bón lá có chứa trung vi lượng hoặc các chất kích thích sinh trưởng.
  • Phun đều lên mặt trên và mặt dưới của lá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh phun khi trời nắng gắt hoặc mưa.
  • Tuân thủ đúng liều lượng và nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất.

2. Phòng trừ sâu bệnh hại đầu mùa mưa

CHĂM SÓC VƯỜN CÀ PHÊ KINH DOANH ĐẦU MÙA MƯA
Chăm sóc vườn cà phê kinh doanh đầu mùa mưa

Đầu mùa mưa, độ ẩm cao có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại sâu bệnh hại cà phê. Việc phòng trừ sớm và hiệu quả là rất quan trọng để bảo vệ cây.

Các đối tượng sâu bệnh hại thường gặp đầu mùa mưa

  • Rệp sáp: Rệp sáp gây hại trên rễ, cành, lá và quả non, làm cây suy yếu, vàng lá, rụng quả.
  • Bệnh thán thư (khô cành, khô quả): Bệnh gây hại trên lá, cành và quả, đặc biệt trong điều kiện ẩm ướt.
  • Các loại nấm bệnh gây hại rễ:  Fusarium, tuyến trùng… gây bệnh thối rễ, làm cây héo úa và chết.

Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác:

  • Tạo tán thông thoáng: Tỉa cành tạo tán hợp lý để vườn cây thông thoáng, giảm độ ẩm và hạn chế sự lây lan của sâu bệnh; định hình hệ cành dự trữ cho năng suất vụ sau.
  • Vệ sinh vườn: Thu gom và tiêu hủy các cành, lá, quả bị bệnh để loại bỏ nguồn lây nhiễm.
  • Quản lý cỏ dại: Cắt tỉa cỏ dại thường xuyên để vườn thông thoáng và giảm nơi trú ẩn của sâu bệnh.

Biện pháp sinh học:

  • Sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật, nấm đối kháng…
  • Khuyến khích sự phát triển của các loài thiên địch như kiến vàng, bọ rùa…

Biện pháp hóa học:

  • Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật sự cần thiết và tuân thủ nguyên tắc “4 đúng”. (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm, đúng cách)
  • Ưu tiên sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, ít ảnh hưởng đến môi trường và thiên địch. (các loại thuốc trong danh mục cho phép của Bộ NN và MT đối với cây cà phê)
  • Luân phiên các loại thuốc để tránh tình trạng kháng thuốc của sâu bệnh.
  • Một số loại thuốc tham khảo (cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng):
    • Rệp sáp: Actara, Confidor, Movento…
    • Bệnh thán thư: Antracol, Mancozeb, Carbendazim…
    • Bệnh thối rễ: Aliette, Ridomil Gold, Confidor… (tưới vào gốc khi phát hiện bệnh).

Thăm vườn thường xuyên:

Theo dõi và phát hiện sớm các dấu hiệu của sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.

3. Lưu ý quan trọng

  • Thời tiết đầu mùa mưa ở Tây Nguyên có thể thay đổi thất thường. Nhà nông cần theo dõi dự báo thời tiết ở khu vực canh tác để có kế hoạch chăm sóc phù hợp, đặc biệt là lịch bón phân.
  • Việc bón phân và phòng trừ sâu bệnh cần được thực hiện đồng bộ. Kết hợp với các biện pháp canh tác khác để đạt hiệu quả tốt nhất.

Bón Phân Cho Cà Phê Trong Giai Đoạn Giữa Mùa Mưa

BÓN PHÂN CHO CÀ PHÊ VỐI THỜI KỲ KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN GIỮA MÙA MƯA

Giai đoạn giữa mùa mưa (thường từ tháng 6–8 ở Tây Nguyên) là thời điểm cà phê đang nuôi trái, trái lớn nhanh,  phát triển thịt quả, tích lũy chất khô, hình thành hạt cà phê nhân. Vì vậy Bón phân cà phê giữa mùa mưa rất quan trọng. Nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là kali (K) và đạm (N) ở mức cao hơn nhiều so với lân. Việc bón phân đúng tỷ lệ và đúng liều lượng sẽ tăng kích cỡ trái và nhân, hạn chế rụng trái non.

Dưới đây là khuyến cáo lượng phân bón cho cà phê kinh doanh đạt năng suất từ 3 – 4 tấn nhân/ha (với mật độ  tiêu chuẩn 1.100 cây/ha).

Nếu năng suất vượt trên 4 tấn nhân/ha, cần bón bội thu thêm từ 10 – 15 % lượng phân khuyến cáo.

Trường hợp sử dụng phân đơn

Loại phân Lượng bón (kg/ha) Lượng bón (kg/cây)
U rê 150 – 190 0,14 – 0,18
Lân Nung chảy (Nếu đầu mùa mưa chưa bón) 500 – 600 0,45 – 0,55
Kali Clo rua 130 – 160 0,12 – 0,15

Trường hợp sử dụng phân NPK

Chọn một các loại phân NPK có tỷ lệ N:P2O5:K2O phù hợp như dưới đây:

Loại phân NPK Lượng bón (kg/ha) Lượng bón (kg/cây)
16-8-16; 16-6-18;  16-8-18; 16-7-17 440 – 560 0,40 – 0,50
17-7-17 420 – 520 0,38 – 0,47
18-9-18 380 – 490 0,35 – 0,45
19-9-19 360 – 450 0,33 – 0,41

Sử dụng các loại phân NPK có chứa TE càng tốt. Hoặc có thể bổ sung thêm các loại phân bón chứa Zn (kẽm) và B (Bo) để cung cấp vi lượng cho cà phê.

BÓN PHÂN CHO CÀ PHÊ VỐI THỜI KỲ KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN GIỮA MÙA MƯA
Bón phân cho cà phê vối thời kỳ kinh doanh trong giai đoạn giữa mùa mưa

Kỹ thuật bón

  • Bón khi đất đủ ẩm, không bón đón mưa
  • Đào rãnh quanh tán cây, sâu 5–10 cm, sau đó bón phân và lấp đất, hoặc phủ bằng lá khô hoặc vỏ cà phê nếu có.

Lưu ý các biện pháp kỹ thuật khác giúp làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón

  • Phun bổ sung phân bón lá chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng để cung cấp bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây cà phê, giúp cây hấp thu các chất dinh dưỡng trong đất tốt hơn, giảm tỷ lệ rụng quả và tăng trong lượng nhân.
  • Tỉa cành yếu, vô hiệu, vặt chồi vượt kịp thời và tạo hệ cành thứ cấp dự trữ cho vụ mùa sau.
  • Phòng trừ kịp thời các loại bệnh hại như nấm hồng, thán thư, nứt vỏ, rỉ sắt.

 

Hướng dẫn chăm sóc Hồ Tiêu sau thu hoạch

Hướng dẫn chăm sóc Hồ Tiêu sau thu hoạch

Các vùng trồng hồ tiêu ở Tây Nguyên đã cơ bản thu hoạch xong hồ tiêu và bước vào giai đoạn chăm sóc sau thu hoạch. Để đảm bảo cho vườn hồ tiêu sinh trưởng khỏe có khả năng ra hoa, đậu quả tốt trong vụ mùa tới. Chống chịu được với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh hại.

Bà con cần lưu ý các giải pháp kỹ thuật sau:

  • Cắt tỉa các cành yếu, cành sâu bệnh hại. Để đảm bảo dinh dưỡng tập trung cho hệ thống cành khỏe. Giúp cây sinh trưởng khỏe và tăng tính chống chịu với điều kiện bất thuận.
  • Dùng các loại thuốc nấm gốc đồng. Để phun phòng trừ các loại tảo gây hại thân, lá (nếu có tảo gây hại).
  • Khoảng 5 – 7 ngày thăm vườn 1 lần. Để phát hiện các loại sâu bệnh sớm và phòng trừ hiệu quả như rệp sáp hại rễ, bệnh chết chậm… Đối với rệp sáp bà con có thể sử dụng thuốc lưu dẫn 2 chiều Movento để phòng trừ. Bệnh chết chậm do tuyến trùng và nấm gây hại có thể dùng thuốc Vaniva kết hợp với Folicur để phòng trừ. Nồng độ sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
  • Tưới nước để duy trì sinh trưởng với lượng từ 100 – 150 lít/gốc. Chu kỳ khoảng 10 – 15 ngày/lần cho đến khoảng trước mùa mưa khoảng 30 – 45 ngày. Sau đó ngưng tưới để cho cây hồ tiêu bước vào giai đoạn khô hạn để phân hóa mầm hoa và nở hoa vào đầu mùa mưa.
  • Giai đoạn tưới nước sau thu hoạch nên bón phân cho hồ tiêu. Sử dụng các loại phân NPK 16-16-8+TE; 20-20-10+ TE; 18-16-8 + TE….. Lượng bón từ 100 – 200 g/cây (trụ) tùy năng suất thu hoạch. Nếu phân NPK không chứa TE thì có thể bổ sung thêm kẽm và bo cho cây. Với lượng bón khoảng 20 – 40 g Sunphát kẽm và 10 – 20 g Borax /cây giúp cây hồ tiêu ra hoa, đậu quả tốt.

Nguyên Nhân Rụng Quả Sầu Riêng Sau Khi Đậu & Cách Khắc Phục

Nguyên nhân rụng quả sầu riêng sau khi đậu quả và giải pháp khắc phục

1. Các nguyên nhân rụng quả sầu riêng sau khi đậu quả

Rụng quả sinh lý

Cây thường rụng bớt trái non trong 2–4 tuần sau đậu quả để cân bằng dinh dưỡng giữa lá, thân, cành và quả.

Tuy nhiên, nếu rụng quá nhiều bất thường thì cần phải xem xét thêm các yếu tố khác.

Thiếu dinh dưỡng / mất cân đối dinh dưỡng

  • Thiếu Bo (B): làm yếu cuống trái, dễ rụng.
  • Thiếu Canxi (Ca): ảnh hưởng cấu trúc thành tế bào, làm cho tế bào của cuống quả bị yếu.
  • Thiếu Kali (K): ảnh hưởng đến độ cứng, độ dai của cuống quả.
  • Thừa đạm (N): cuống quả sẽ phát sinh tầng rời do cân bằng hóc môn bị phá vỡ, cây phát triển lá quá mức, nuôi quả kém.

Độ ẩm đất không phù hợp

Sầu riêng ở Tây Nguyên giai đoạn sau đậu quả thường vào thời điểm đầu mùa mưa nên dễ gặp trường hợp độ ẩm đất cao do mưa nhiều.

  • Độ ẩm đất cao ở trạng thái bão hòa, rễ thiếu o xy dễ gây thối rễ, cây bị sốc ẩm làm cho quả bị rụng
  • Độ ẩm không khí trong vườn cao làm giảm quá trình hút chất dinh dưỡng của rễ, đặc biệt là B, Ca và K làm cho cuống quả mềm yếu, dễ rụng

Sâu bệnh hại

  • Bọ xít muỗi, rệp sáp chích hút làm rụng quả
  • Nấm Phytophthora gây thối trái, thối cuống gây rụng quả

Điều kiện thời tiết bất lợi

Mưa nắng thất thường, gió mạnh, nhiệt độ cao dẫn đến gây sốc sinh lý.

Mưa to ngay sau khi bón phân, hoặc mưa kéo dài làm cho rễ bị thiếu o xy, giảm hấp thu dinh dưỡng (sốc dinh dưỡng)

2. Giải pháp hạn chế sầu riêng rụng quả

Nguyên nhân rụng quả sầu riêng sau khi đậu quả và giải pháp khắc phục
Nguyên nhân rụng quả sầu riêng sau khi đậu quả và giải pháp khắc phục

Quản lý dinh dưỡng hợp lý

Giai đoạn sau đậu trái (nuôi trái non):

  • Bón phân qua lá chứa:
    • Phun Bo (B): giúp cuống chắc, tăng đậu trái, dùng phân dạng Boron Chelate, liều 50–100g/200 lít.
    • Canxi + Bo (Ca+B): tăng độ dai cuống.
    • Phun 2 – 3 lần cách nhau khoảng 15 ngày.
  • Phân bón rễ:
    • Dùng NPK 15-15-15, 16-16-16 hoặc 16-16-13, bổ sung thêm Canxi định kỳ 15–20 ngày/lần.
    • Nếu cây tốt lá, hạn chế N (đạm), ưu tiên bón Kali hoặc phun MKP
  • Nên bón các loại phân hữu cơ nước, humic, amino acid giúp tăng hấp thu dinh dưỡng đảm bảo yêu cầu của cây

Quản lý độ ẩm đất

  • Giữ độ ẩm đất ổn định, tránh khô hạn hoặc đọng nước.
  • Lưu ý tạo rãnh thoát nước, không để ứ nước quanh gốc.

Phòng trừ sâu bệnh kịp thời

Bọ xít muỗi, rệp sáp
  • Dùng Thuốc sinh học như: Radiant 60SC, Sincosin 5EC, hoặc các dòng Emamectin, Abamectin luân phiên.
  • Phun định kỳ 10–15 ngày/lần từ giai đoạn đậu trái.
Nấm Phytophthora (gây thối trái, thối cuống, nứt thối thân)
  • Dùng thuốc gốc đồng (Copper hydroxide, Metalaxyl, Fosetyl-Al…) Ví dụ: Aliette 80WP, Ridomil Gold, Copper-B, phun + quét vào chỗ nứt thân (sau khi đã cạo lớp vỏ bị thối) và tưới định kỳ 15–20 ngày/lần.

Tỉa trái hợp lý

  • Nếu đậu quả quá nhiều, nên tỉa bớt trái dị dạng, nhỏ, nằm sâu trong tán.
  • Mật độ 1–3 trái/chùm tùy sức và tuổi cây.

>>>> Xem ngay: Các lưu ý đối với vườn sầu riêng sau đậu quả từ 20 – 40 ngày

Các Lưu Ý Đối Với Vườn Sầu Riêng Sau Đậu Quả Từ 20 – 40 Ngày

Các lưu ý đối với vườn sầu riêng sau đậu quả từ 20 – 40 ngày

Hiện tại ở Tây Nguyên nhiều vườn sầu riêng đã và đang ra hoa, đậu quả. Một số vườn đã đậu quả được 20 – 40 ngày. Giai đoạn này cây sầu riêng rất nhạy cảm với các điều kiện ngoại cảnh và xảy ra tình trạng rụng quả với tỷ lệ cao. Vì vậy nhà nông cần lưu ý các vấn đề sau để có thể hạn chế tỷ lệ rụng quả sầu riêng không mong muốn.

1. Biện pháp canh tác

Duy trì độ ẩm đất phù hợp

Nếu thời tiết khô hạn kéo dài, cần tăng cường tưới nước với lượng phù hợp, không tưới quá ẩm. Ngược lại, nếu mưa nhiều, cần có biện pháp thoát nước, thoát ẩm tốt. Vườn sầu riêng rậm rạp, độ ẩm đất và không khí cao sẽ làm tăng tỷ lệ rụng quả.

Tỉa cành, tạo tán

Loại bỏ các cành khô, cành yếu, cành sâu bệnh, cành vượt, cành mọc quá dày trong tán cây để tạo sự thông thoáng, giúp cây nhận đủ ánh sáng và giảm cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả.

Việc tỉa cành cũng giúp giảm nguy cơ sâu bệnh phát triển giúp cây sinh trưởng khỏe, hạn chế rụng quả.

Quản lý sâu bệnh hại

Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện sớm các loại sâu bệnh gây hại cho quả non như rệp sáp, nhện đỏ, rệp bông…

Áp dụng các biện pháp phòng trừ sinh học hoặc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục. Ưu tiên các loại thuốc có tác động chọn lọc và ít ảnh hưởng đến môi trường. Phun đúng liều lượng, nồng độ theo khuyến cáo.

Vệ sinh vườn cây

Thu gom và tiêu hủy/chôn lấp các lá, cành, quả rụng để hạn chế nguồn lây lan sâu bệnh.

Dọn sạch cỏ dại xung quanh gốc cây để tránh cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh.

Hạn chế tác động cơ học

Tránh va chạm mạnh vào cành và quả non trong quá trình chăm sóc.

Không rung cây để tỉa quả non vì có thể làm ảnh hưởng đến các quả còn lại.

2. Bón phân

 

Các lưu ý đối với vườn sầu riêng sau đậu quả từ 20 – 40 ngày (2)
Các lưu ý đối với vườn sầu riêng sau đậu quả từ 20 – 40 ngày

Giai đoạn cây sầu riêng 20-30 ngày sau đậu quả non rất cần các chất dinh dưỡng để nuôi quả. Việc bón phân cân đối và đúng cách sẽ giúp giảm rụng quả và đảm bảo chất lượng quả sau này.

Loại phân:

Phân hữu cơ: Bón lót hoặc bón thúc bằng phân chuồng ủ hoai, phân xanh, hoặc các loại phân hữu cơ chế biến công nghiệp/phân nở có hàm lượng chất hữu cơ cao (>60 %).

Phân vô cơ:

  • Đạm (N): Cần thiết cho sự phát triển của lá và cành, nhưng cần bón với lượng vừa phải cân đối với P và K để tránh cây phát triển quá mạnh về sinh trưởng thân lá, cạnh tranh dinh dưỡng với quả.
  • Lân (P): Rất quan trọng cho sự phát triển của rễ và quá trình đậu quả, phát triển quả.
  • Kali (K): Đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển quả, đảm bảo chất lượng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất lợi.
  • Trung vi lượng: Cây cũng cần một lượng nhỏ các chất trung vi lượng như Canxi (Ca), Magie (Mg), Bo (B), Kẽm (Zn)… Các chất này tham gia vào nhiều quá trình sinh lý quan trọng của cây, giúp tăng khả năng đậu quả và giảm rụng quả non.

Lượng phân:

Lượng phân bón cụ thể sẽ phụ thuộc vào độ tuổi của cây, tình trạng sinh trưởng, loại đất và giai đoạn phát triển.

Đối với giai đoạn sau đậu quả non 20-40 ngày, có thể tham khảo liều lượng sau cho một cây trưởng thành (điều chỉnh tùy theo tuổi cây và tình trạng cụ thể):

  • Phân hữu cơ: Phân chuồng hoai mục: 20 – 30 kg/cây; phân nở 4 – 8 kg/cây
  • Phân NPK: Khoảng 0.3 – 0.5 kg/cây (tỷ lệ NPK có thể là 15-15-15, 16-16-16, 15-12-7 hoặc 16-16-8).
  • Phân Canxi Nitrate hoặc Canxi Bo: Khoảng 0.1 – 0.2 kg/cây (bổ sung Canxi giúp cứng quả, giảm rụng).
  • Phân bón lá vi lượng: Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất, có thể phun định kỳ 7-10 ngày/lần. Các loại phân bón lá có chứa Bo, Kẽm… đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này.

Kỹ thuật bón phân:

Bón gốc:

  • Đào rãnh hoặc hốc xung quanh tán cây (cách gốc khoảng 0.5 – 1m), sâu khoảng 10-15cm.
  • Trộn đều phân với đất và lấp lại.
  • Tưới nước sau khi bón để phân hòa tan và cây dễ hấp thụ (nếu đất có độ ẩm thấp/khô).

Phun qua lá:

  • Sử dụng các loại phân bón lá có chứa trung vi lượng.
  • Phun đều lên mặt trên và mặt dưới của lá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
  • Tuân thủ đúng liều lượng và nồng độ khuyến cáo.

Lưu ý quan trọng:

  • Không bón quá nhiều phân đạm: Việc bón quá nhiều đạm có thể làm cây phát triển mạnh về lá, cạnh tranh dinh dưỡng với quả và làm tăng nguy cơ rụng quả.
  • Cân đối các chất dinh dưỡng: Đảm bảo cung cấp đầy đủ và cân đối các chất N, P, K và trung vi lượng.
  • Theo dõi phản ứng của cây: Quan sát sự phát triển của cây và quả để điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp.
  • Kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ: Việc kết hợp này giúp cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và bền vững cho cây, đồng thời cải tạo đất.
  • Không bón đón mưa

Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng quả non như:

  • Yếu tố sinh lý: Cây tự điều chỉnh số lượng quả để đảm bảo khả năng nuôi dưỡng.
  • Thời tiết bất lợi: Sương muối, nắng nóng kéo dài, mưa lớn đột ngột, mưa kéo dài…
  • Giống sầu riêng: Một số giống có tỷ lệ rụng quả non cao hơn các giống khác.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Tiêu

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây tiêu

I/ Đặc điểm hình thái:

1/ Rễ: có 3 loại.

– Rễ cái: ăn sâu đến 2 m để hút nước.

– Rễ phụ: mọc thành từng chùm ở độ sâu từ lớp đất mặt đến 40 cm, có nhiệm vụ hút nước và dưỡng chất nuôi cây, kém chịu úng.

– Rễ bám (rễ thằn lằn): mọc ra từ đốt thân ở trên không giúp cây bám vào nọc là chính.

2/ Thân: thân leo, có thể cao đến 10 m

3/ Cành: có 3 loại cành.

– Cành lươn: mọc ra từ các mầm nách gần sát gốc, lóng dài, cần được cắt bỏ.

– Cành vượt: mọc song song với thân chính, sinh trưởng mạnh. Tiêu còn nhỏ cần bấm ngọn để phát sinh nhiều cành vượt để tạo thành bộ khung chính của cây tiêu. Những năm sau cần bấm bỏ bởi vì chúng sẽ tiêu hao nhiều dưỡng chất. Có thể dùng làm giống.

– Cành ác (cành quả, cành ngang): mọc ngang, mang trái. Không dùng làm giống.

4/ Hoa: loại hoa tự hình gié, dài từ 7 – 12 cm, 20 – 60 hoa xếp thành hình xoắn ốc. Hoa thụ phấn nhờ vào ẩm độ cao của môi trường.

5/ Trái: dạng hình cầu, đường kính 4 – 8 mm. Trái non có màu xanh và chuyển sang đỏ lúc chín. Từ khi ra hoa đến khi chín 7 – 10 tháng.

 

II/ Yêu cầu đất đai – khí hậu:

1/ Đất đai: cây tiêu có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng để sinh trưởng phát triển tốt và lâu dài, đất trồng tiêu cần phải đảm bảo các yếu tố :

– Đất dễ thoát nước, không bị úng, ngập.

– Tầng đất phải sâu, tốt nhất là 1 m trở lên.

– Mạch nước ngầm phải sâu, ít nhất là 70 cm.

– Đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tơi xốp, giàu mùn, không chua.

2/ Khí hậu: cây tiêu nguyên chủng mọc dưới tán cây rừng.

– Nhiệt độ thích hợp 22 – 28 0C, sinh trưởng bình thường từ 18 – 350C.

– Lượng mưa hằng năm từ 1250 – 2500 mm/năm trở lên, tốt nhất được phân bố đều trong năm do hệ thống rễ ăn cạn, không chịu nổi với điều kiện khô hạn kéo dài. Cần có 1 khoảng thời gian khô hạn ngắn để phân hóa mầm hoa (20 – 30 ngày).

– Ánh sáng: ưa ánh sáng tán xạ, do đó trong thời kỳ đầu, nhất là lúc mới trồng cần che bóng cẩn thận. Giai đoạn ra hoa nuôi quả cây cần nhiều ánh sánh hơn, có thể che bóng ít hoặc không che do cây trưởng thành có khả năng tự che bóng cho nhau.

– Gió: cây tiêu yếu chịu gió, cần có hàng cây chắn gió.

 

III/ Giống – nhân giống:

1/ Giống tiêu: có nhiều giống tiêu như sẻ đất đỏ của vùng miền Đông Nam bộ, tiêu Di Linh, tiêu Phú Quốc, tiêu Vĩnh Linh, tiêu Campuchia, tiêu Ấn Độ,… Hiện nay giống tiêu lá to Vĩnh Linh (Lada belangtoeng) và tiêu Ấn Độ đang được khuyến cáo trồng do sự sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh chết nhanh khá, năng suất cao.

2/ Chọn giống: chọn những bụi tiêu không bị sâu bệnh, sinh trưởng khỏe mạnh, dưới 18 tháng tuổi để làm giống.

3/ Nhân giống: chủ yếu là giâm hom, lấy từ thân chính, cành vượt hoặc dây lươn. Hom lấy ở dây lươn chậm ra hoa. Cắt mỗi hom từ 4 – 5 đốt (khi thiếu thì cắt từ 2 – 3 đốt). Loại 4 –5 đốt có thể đem trồng thẳng (không ươm). Nếu trồng nhiều cần giâm hom nhằm đảm bảo tỷ lệ sống cao và tạo độ đồng đều cho vườn tiêu sau này. Hom giống sau khi cắt xong, loại bỏ bớt cành lá để hạn chế sự mất nước, nhúng phần gốc hom vào dung dịch kích thích ra rễ (có bán trên thị trường) và dung dịch nước thuốc Aliette (hoặc Matalaxyl) 30/00, sau đó đem giâm ngay. Có thể giâm trong bể giâm chứa mùn cưa, trấu hay giâm vào luống, sau khi ra rễ mới chuyển vào túi bầu. Túi bầu bằng nylon, có kích thướt 15×25 cm, đã đục lổ, chứa 1,5 kg đất mặt + 0,5 kg phân chuồng hoai + 5 g Super lân. Chọc lổ, đặt hom, 2 mắt nằm trong đất ấn chặt lại. Làm giàn che nắng và gió, tưới nước chăm sóc. Sau mỗi tháng dở bớt dàn che, cuối cùng để cho 60 – 70% ánh sáng lọt qua. Khi nhánh tiêu mọc dài 40 50 cm, có 5 – 7 lá thật thì đem trồng.

 

IV/ Nọc tiêu:

Tiêu có thể leo lên nọc cây sống hoặc nọc chết như gỗ, nọc gạch, nọc bê tông.

– Nọc cây sống: các loại cây đa niên tiêu đều leo bám được. Tuy nhiên để xây dựng vườn tiêu, cần chọn những loại cây lớn nhanh, rễ ăn sâu vào lòng đất, ít rễ ngang, ít tàn lá, dễ nhân giống, không thay vỏ như cây vong nem , cây lồng mức, cây anh đào giả, cây keo dậu,…

– Nọc chết: nọc cây gỗ, có đường kính từ 8 cm trở lên, cao 3 – 5 m. Hiện nay, vì cạn kiệt, người ta đúc nọc bằng bê tông cốt thép và dùng gạch để xây nọc. Do dó giá thành của nọc bê tông và gạch lớn nên có thể chia làm 2 giai đoạn để đầu tư: ban đầu nên đúc nọc bê tông hoặc nọc gạch ở độ cao 1,5 – 2 m, sau đó tiếp tục đốt hoặc xây thêm cho đến độ cao 3,5 – 5 m tuỳ khả năng.

Nếu sử dụng nọc chết, khoảng cách trồng có thể là 2×2 m, 2×2,5 m, 2,5×2,5 m. Nọc gạch có đường kính trên 0,8 m, có thể trồng với khoảng cách 2,5×3 m đến 3×3 m.

Nếu trồng toàn bộ nọc cây sống, khoảng cách trồng từ 2,5×3 m, bố trí theo hướng đông – tây và rong tỉa cành trong mùa mưa.

Có thể trồng xen 1 hàng nọc sống 1 hàng nọc chết để giảm bớt chi phí và điều hòa ánh sánh.

 

V/ Trồng tiêu:

Trước khi trồng từ 2 – 3 tuần, cần đào rãnh quanh nọc tiêu, cách mép nọc tiêu từ 10 – 15 cm, sâu 40 – 50 cm, rộng 40 – 50 cm rồi bón lót phân chuồng hoai (càng nhiều càng tốt) + 0,5 kg vôi + 0,5 kg Super lân trộn đề u với đất mặt.

Khi trồng, đặt bầu tiêu cách nọc từ 15 – 20 cm, nghiêng 1 góc 45 – 600 hướng ngọn tiêu về gốc nọc, nọc cây sống thì trồng xa hơn một chút. Nén chặt đất xung quanh bầu tiêu (hom tiêu) rồi che chắn cẩn thận, tránh gió lùa và ánh sáng chiếu trực tiếp vào làm cháy lá, cháy dây. Nọc có đường kính nhỏ (< 20 cm) có thể trồng 3 – 4 hom. Nọc xây gạch, cứ 30 cm trồng 1 hom.

Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa, cây tiêu kịp lớn để chống chịu được hạn vào đầu mùa khô.

 

VI/ Chăm sóc:

1/ Che bóng cho tiêu non: khi tiêu mới trồng cần dùng cỏ, rác, lá dừa,… che tủ tránh nắng và gió làm tiêu mất nước và bị cháy nắng. Có thể che bằng tấm liếp hoặc dàn che.

2/ Trồng dặm: sau trồng 3 tuần, cần kiểm tra loại bỏ những hom chết và trồng dặm kịp thời để cây kịp sinh trưởng đồng đều với những cây trồng trước.

3/ Làm cỏ xới xáo: làm cỏ sạch quanh gốc và giữa các hàng tiêu. Không xới xáo trong gốc tiêu, xới cách gốc 50 – 60 cm. Mùa mưa cần tránh xới xáo vì dễ làm tổn thương bộ rễ giúp mầm bệnh xâm nhập vào làm chết tiêu.,,

4/ Xén tỉa tạo hình:

– Sau khi tiêu lên cao, cần dùng dây mềm (dây nhựa, nylon) buộc vào cây nọc. Tráng dùng các loại dây chuối, dây rừng,… vì các dây này dễ bị mục làm cho phần thân tiêu nơi buộc dây dễ bị mầm bệnh tấn công.

– Tiêu leo lên cao 60 – 80 cm mà vẫn chưa phát sinh cành ngang thì tiến hành bấm ngọn hoặc đôn dây.

– Sử dụng cành vượt các cấp làm bộ khung thân chính đều đặn quanh nọc.

– Trong các năm 1 – 2 có thể có một số cành ác ra hoa cần xén bỏ để tập trung dinh dưỡng cho bộ khung chính sinh trưởng mạnh.

5/ Tủ gốc giữ ẩm trong mùa nắng bằng các loại rơm rạ, cỏ khô,… Đề phòng mối và cháy. Tủ cách gốc 10 – 20 cm.

6/ Tưới nước và chống úng cho tiêu:

Trong mùa nắng cần tưới nước thường xuyên (không thừa nước), kết hợp với các biện pháp che chắn, tủ gốc giữ ẩm cho tiêu. Trong thời kỳ kinh doanh, việc tưới nước cho tiêu có khác hơn. Trong thời kỳ này, đặc biệt sau thu hoạch, chỉ tưới cho tiêu khi thấy thật cần thiết, đủ cho cây sống, chịu đựng được mùa khô hạn để bước vào mùa mưa. Nếu tưới nước quá nhiều, cây sẽ tiếp tục sinh trưởng phát triển, các chùm quả phát sinh rải rác, tỷ lệ thụ phấn thấp làm giảm sản lượng và gây trở ngại cho việc chăm sóc, thu hoạch.

– Cần đánh rãnh nước giữa 2 hàng tiêu trong mùa mưa để chống úng. Đây là công việc hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho vườn tiêu tồn tại lâu dài.

7/ Xén tỉa cây nọc sống:

– Cần xén tỉa cây nọc sống 2 – 3 lần trong mùa mưa để cây tiêu có đủ ánh sáng.

– Trong mùa khô không nên xén tỉa, kết hợp với biện pháp tủ gốc tích cực có thể tiết kiệm được lượng nước tưới quan trọng.

 

VII/ Bón phân:

Nhu cầu dinh dưỡng cho cây tiêu:

Nhu cầu dinh dưỡng của cây tiêu khá cao. từ năm thứ 3 sau trồng, cây cần nhiều nhất là đạm, sau đó đến kali rồi mới đến lân, vôi, ma nhê và các chất khoáng khác.

Từ 1 năm đến 3 năm bón phân như sau:

 

Loại phân

Năm 1

Năm 2

Năm 3

Đạm Phú Mỹ (g)

Super lân (g).

KCl (g)

Vôi (g)

Phân chuồng (kg)

100 – 150

400 –500

100

500

15 –20

200 – 250

400 – 500

150 – 200

15 – 20

300 – 400

500

250 – 300

15 – 30

 

Cách bón:

– Lót (đầu mùa mưa): toàn bộ phân chuồng + vôi + 1/3 (Đạm Phú Mỹ + lân + kali Phú Mỹ).

– Giữa mùa mưa: 1/3 (Đạm Phú Mỹ + lân + kali Phú Mỹ).

– Cuối mùa mưa: 1/3 (Đạm Phú Mỹ + lân + kali Phú Mỹ).

Từ năm thứ 4 trở đi, cây tiêu đã cho thu hoạch, bón phân cho một nọc (kg) như sau:

 

Phân bón

Lượng bón (g/trụ)

Sau thu hoạch

(tháng 5 – 6)

Trước ra hoa

(tháng 7)

Nuôi trái

(tháng 8)

Nuôi trái

(tháng 9)

Chắc hạt

(tháng 10 – 11)

Phân chuồng hoai mục(hoặc hữu cơ vi sinh)

10 kg

2,5 – 3,5 kg

NPK Phú Mỹ 16-16-8+13S

300 – 350

 –  –

NPK Phú Mỹ 15-15-15

300 – 350

 200 – 300  –

NPK Phú Mỹ 12-10-9+TE

200 – 300

 –  –

Kali Phú Mỹ

200

 

Cách bón : Xới nhẹ phá váng sâu 2 cm, rải phân hóa học rồi lấp nhẹ cho kín phân.

 

VIII/ Sâu bệnh hại:

Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến người trồng tiêu. Bệnh chết nhanh cây tiêu do nấm Phythopthora palmivora gây hại là một điểm hình. Chúng có thể hủy diệt một nọc tiêu, một vườn tiêu hay cả một vùng trồng tiêu trong thời gian ngắn, gây thiệt hại to lớn đối với sản xuất.

1/ Sâu hại:

Quan trọng nhất là loại rệp, gồm:

– Rệp muội: thường bám vào các lá non, ngọn non để chích hút

– Rệp xáp, rệp bông: bám vào đốt, thân, cành lá, đặc biệt là phần gốc rễ nằm dưới mặt đất, chích hút làm cho cây kiệt quệ dinh dưỡng, đồng thời tạo vết thương mở đường cho các loại nấm xâm nhập gây hại.

* Phòng trừ:

– Nếu ít, bắt diệt bằng tay.

– Dùng các loại thuốc trừ sâu thông thường đối với các loại rệp mụi.

– Đối với rệp sáp : dùng các loại thuốc đặc trị Supracide 40 EC, Bi 58, Con fidor,…)

2/ Tuyến trùng hại rễ:

Là đối tượng nguy hiểm đối với cây tiêu. Loài Meloidogyne incognita chui vào trong rễ làm cho rễ nổi lên các nốt sần. Chúng sống trong đó, làm cho rễ bị huỷ hoại mất khả năng hút nước và chất dinh dưỡng. Bệnh càng nặng, rễ tiêu càng có nhiều nốt sần. Cây tiêu bị hại sẽ sinh trưởng chậm, lá biến dần thành màu vàng, rụng dần. Cây tiêu tàn lụi, xơ xác. Vết thương trên rễ tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập gây chết tiêu.

* Phòng trừ:

– Dùng giống kháng.

– Tăng cường bón phân hữu cơ có thể làm giảm đáng kể mật độ tuyến trùng trong gốc tiêu.

– Trồng cây vạn thọ, và dùng thân xác cây vạn thọ bón vào gốc tiêu.

– Dùng các loại thuốc đặc trị (Mocap 10G, Vinoca 20ND, Sincosin 0,56 SL, Marshall 5G)

3/ Bệnh hại

a/ Bệnh mạng trắng do nấm Marasmius scandensmassee gây hại, chủ yếu trên chùm hom mới trồng. Mạng sợi nấm mọc tua tủa trên hom làm cho hom bị chết

* Phòng trừ:

– Chọn hom giống tốt, không bị bệnh.

– Xử lý hom giống bằng dung dịch Aliette 80WP nồng độ 0,2 -0,3%

– Phun thuốc Topsin M, Carbendazim 500FL

b/ Bệnh thán thư: do nấm Collectotrichum gloeosporioides gây hại trên lá, thân, cành và chùm quả làm cho lá bị cháy có vân; làm cho lá non nhăn, dày, có chấm vàng; gây rụng gié hoa; gây vàng lá, rụng lóng.

* Phòng trị:

– Vệ sinh thông thoáng vườn tiêu, cắt bỏ những cành nhánh sát gốc, cành lươn, cành bị che khuất.

– Bón phân đầy đủ, cân đối.

– Dùng các loại thuốc Carbendazim 500FL, Topsin M, Benlate C.

c/ Bệnh khô vằn: do nấm Rhizoctonia solani gây hại, chủ yếu trong mùa mưa, trên các vườn tiêu rậm rạp. Trong điều kiệm ẩm ướt, các bào tử nấm xâm nhập vào thân, cành hút dinh dưỡng và làm suy kiệt dây tiêu làm héo lá, chết thân, rụng gié. Đây là loại nấm đa thực, hại trên nhiều loại cây và cỏ dại.

* Phòng trị:

– Làm thông thoáng vườn tiêu trong mùa mưa.

– Diệt các cây tiêu có bệnh để trừ nguồn bệnh.

– Dùng thuốc Anvil hay Validacin.

d/ Bệnh vàng lá virus: còn gọi là bệnh “tiêu điên”. Khi bị bệnh, lá tiêu bị nhỏ lại, biến vàng, phiến lá nhăn, dị dạng. Cây bệnh cằn cổi, không lớn lên được.

Bệnh do virus gây hại. Hiện nay không có thuốc trị được. Bệnh do côn trùng môi giới, chích hút từ cây bị bệnh truyền sang (rệp, rầy xanh,…).

* Phòng trị:

– Diệt rầy, rệp các loại.

– Không dùng tiêu bị bệnh để nhân giống.

– Nhổ bỏ, gom đốt các cây tiêu bị bệnh nặng.

– Các dao kéo cắt tỉa cành cần khử trùng bằng cồn 900 trước khi cắt sang nọc tiêu khác.

e/ Bệnh héo chết nhanh: do nấm Phythopthora palmivora gây hại. Nấm xâm nhập và tấn công vào cổ rễ, thân, cuống lá, cuống chùm quả. Nấm huỷ hoại mạch dẫn nước và dưỡng chất trong thân làm cho thân bị thối nhũn. Quả, cành, lá bị héo và rụng. Diễn biến của bệnh khá nhanh chóng, nhiều khi cây chết trong vòng 7 – 10 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên trên thân lá.

Nấm Phythopthora palmivora ưa môi trường đất có ẩm độ cao và chua do đó dễ lây lan nhanh chống trong điều kiện đất ngập úng, ẩm ướt. Ngoài ra, các loại nấm khác nhưFusarium sp và Pythium sp cũng tấn công cây tiêu làm cho cây bị chết nhưng chậm hơn.

* Phòng trị:

– Chống úng một cách triệt để, nhanh chóng và kịp thời.

– Trị tuyến trùng và rệp sáp hại ở vùng rễ tiêu.

– Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục; bón đúng, đủ, cân đối các loại phân hóa học để cây có đủ dưỡng chất.

– Vệ sinh thông thoáng vườn tiêu, cắt bỏ các cành nhánh, cách gốc 40 cm.

– Không xới xáo trong vùng rễ trong mùa mưa.

– Định kỳ dùng các loại thuốc gốc đồng quét và tưới gốc. Dùng Aliette 80WP, Mexyl MZ 80WP phun đẫm lên cây với 2 – 3lần trong mùa mưa.

– Khi trong vườn có những dây bị chết, cần nhổ bỏ, tiêu huỷ, rắc vôi bột, phun thuốc Aliette 80WP nồng độ 0,3%.

–  Các nọc tiêu còn lại cần tưới dung dịch gốc đồng các loại và phun đẫm dung dịch Aliette 80WP nồng độ 0,3% hay Metalaxyl nồng độ 0,2%, cứ 10 – 15 ngày/lần cho đến khi thấy diễn tiến của bệnh ngưng hẳn.

 

Trung tâm khuyến nông khuyến ngư Bình Phước

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Bơ

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ

Đã đến lúc chúng ta khẳng định vị thế của cây bơ ở Tây Nguyên cũng như một số vùng tiềm năng khác để phát huy lên mức cao nhất.

Tây Nguyên đang trở thành vùng trồng bơ lớn. Ảnh: Nguyễn Thị Thành Thực.
Tây Nguyên đang trở thành vùng trồng bơ lớn. Ảnh: Nguyễn Thị Thành Thực.

Những lưu ý

1. Do bơ có hai nhóm ra hoa, nhóm A và nhóm B, nên khi trồng bơ phải lưu ý:

Nhà vườn phải biết giống mình định trồng thuộc nhóm hoa nào, để còn phối hợp với nhóm hoa khác để có sự thụ phấn tốt, nhớ có đủ nhóm hoa A và nhóm hoa B, trừ khi chắc chắn là chung quanh đã có đủ ong để thụ phấn bổ sung.

Nhóm hoa A: Có các giống như Hass, Lamb Hass, Hass – Carmen, Gem, Pinkerton, Wurth, Reed…

Nhóm hoa B: Có Fuerte, Shepard, Zutano, Booth, Sharwin.

2.  Lưu ý thứ hai, phải trồng bơ trên đất thoát thủy tốt nhằm hạn chế bệnh xì mủ.

3.  Lưu ý thứ ba, trồng trên mô cao 30-40 cm (dù là đất đồi, để đảm bảo thoát thủy tốt, không bị thối cổ rễ vào đầu mùa mưa).

4.  Lưu ý khi đặt cây xuống đất, phải đặt chỗ cao (không chôn sâu xuống đất), mặt đất của bầu cây giống lúc trồng phải bằng với đất của mặt mô). Điều này, bà con Tây nguyên mình hiện làm khác với thực hành trên thế giới.

5.  Lúc mới trồng, nên tưới thêm phân sinh học (như Tricoderma, phân cá, mật mía, ủ 20 ngày, rồi pha loãng xịt hay tưới gốc) nhằm thúc cây ra rễ nhanh, tạo bộ rễ khỏe mạnh.

6.  Khi cây mới trồng vừa phục hồi, nên nhanh chóng bón NPK + TE, Yara, khoảng 10 gr/gốc, vài ba tháng bón một lần, kết hợp với phòng trị sâu, bệnh. Đến khi cây lớn 1 tuổi, tăng dần lượng phân bón lên 20 gr/gốc một lần.

7.  Lưu ý, tưới thuốc Agriphos theo hệ thống tưới vào đầu mùa mưa tháng 5 để tăng sức đề kháng cho cây chống lại bệnh xì mủ. Sau đó, hai tháng lặp lại, và lặp lại lần thứ ba sau hai tháng. Tuy vậy, vẫn phải quan sát gốc cây cẩn thận, nếu thấy cây bị xì mủ thì phải trị bệnh liền bằng thuốc hóa học như Mataxyl, Ridomil, Aliette, Agriphos.

8. Do cây bơ ra đọt cùng lúc với trái non đang phát triển, nên không bón phân N và P lúc cây đang trổ bông và lúc trái non mới vừa đậu. Chỉ bón N trước khi trổ và sau khi trái đã đậu (Bảng qui trình chăm sóc bơ được tóm tắt ở sách Avocado Information Kit, Agrilink Series, 2001).

9. Không xịt thuốc trừ nấm gốc đồng khi cây đang trổ hoa, nhưng sau khi trái đã đậu, sử đúng thuốc gốc đồng với khoảng cách 28 ngày nếu trời nắng, và 14 ngày nếu trời mưa.

10. Bơ có nhu cầu nước cao lúc trỗ, đậu trái, và lúc trái phát triển.

11. Ở nước ngoài, họ khuyến cáo xịt Bo nhiều lần: Trước trỗ, trong lúc trỗ và cho đến gần thu hoạch, tất cả 10 lần, mỗi lần cách nhau một tháng.

Bảo vệ thực vật

– Sâu hại chính: Ở nước ta có các sâu hại như sâu đục thân, bọ ăn lá non, sâu xanh (lá non), bọ xít (đục trái), bọ xít muỗi (gây chết đọt non), bọ trĩ (ăn bông), rệp sáp (chết đọt)…

– Bệnh hại chính: Các bệnh chính như xì mủ thân, thối cổ rễ do nấm Phytophthora, bệnh thán thư (Anthracnose do nấm Colletotrichum) trên trái, bệnh đốm lá Cercospora, và bệnh hóa nâu phần gỗ bên trong nối tiếp giáp giữa gốc ghép và mắt ghép…

Do việc chống chịu với bệnh xì mủ là việc quan trọng của ngành trồng bơ bền vững, tôi cho rằng cần có đề tài chọn tạo giống gốc ghép bơ kháng bệnh xì mủ thân do nấm Phytophthora gây ra, hoặc có chương trình nhập gốc ghép kháng bệnh này sớm để phát triển bơ bền vững.

Thu hoạch

Vì sao ở các nước tiên tiến, không có việc mua bơ về gặp không bao giờ chín, như thường gặp ở Việt Nam?

Do ở các nước tiên tiến, người nông dân đều làm một thử nghiệm nhỏ trước khi quyết định đã đến lúc thu hoạch hay chưa, đó là thử nghiệm kiểm tra độ dầu bằng phương pháp sấy thịt quả đến khi tổng lượng chất khô (TDM) không còn giảm nữa thì đó là lúc thu hoạch.

Lúc này bơ đã chín sinh lý, sẽ được thu hái, vận chuyển vào nhà đóng gói, rửa, đóng thùng, rồi được tồn trữ trong kho mát đến được một tháng. Kỹ thuật tồn trữ và các chỉ số như nhiệt độ, ẩm độ kho mát đều đã được công bố rộng rãi cho các giống hiện nay như: Hass, Shepard, Reed, Pinkerton,Wurtz, Sharwil (Fruit Trop, số 251, 2017, trang 102-104).

Năng suất bơ 

Sau hai năm trồng: 500 kg/ha, trung bình 5 – 15 kg/cây.

Năm thứ ba: 2-4 tấn/ha.

Năm thứ tư: 4-6 tấn/ha.

Năm thứ năm: 6-8 tấn/ha.

Năm thứ sáu: 8-12 tấn/ha, 10 tấn là năng suất trung bình của vườn bơ trên thế giới.

Năm thứ bảy: 12-16 tấn/ha, nếu quản lí vườn tốt.

Năng suất có thể đến 15 tấn/ha, nếu quản lí vườn tốt.

Ở Việt Nam, các giống như Mã Dưỡng, MD2, 034… cho năng suất rất cao, đến 150 kg/cây/năm, nếu trồng cây với khoảng cách 6m x 6m, cao hơn năng suất bình quân của thế giới.

Ủ chín bơ

Ở Mỹ, bơ sau khi thu hoạch được phân loại, đóng gói cẩn thận trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: Nguyễn Minh Châu.
Ở Mỹ, bơ sau khi thu hoạch được phân loại, đóng gói cẩn thận trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: Nguyễn Minh Châu.

Ở các nước tiên tiến như Mỹ, Nam Phi, Úc, các thùng bơ (tồn trữ trong kho mát) đều phải qua khâu ủ chín trước khi đưa vào siêu thị.

Khi có đơn đặt hàng, thì bơ đã đóng thùng đang tồn trữ trong kho mát, sẽ được chuyển vào kho ủ để ủ chín bằng khí ethylen, từ 12 đến 72 tiếng, tùy theo giống và độ chín lúc hái. Xong công đoạn này, các thùng carton bơ sẽ được đưa vào siêu thị để bán.

Thị trường tiêu thụ

Nhiều người cứ nghĩ phải bơ Hass, Lamb Hass, Pinkerton, Shepard… mới xuất khẩu được. Tuy nhiên bơ nhiệt đới thuộc nhóm West Indie vẫn xuất khẩu được và vẫn được nhiều nước sản xuất kể cả Mỹ.

Các giống bơ nhiệt đới (West Indian race), nhóm có hàm lượng dầu thấp, vẫn được nhiều nước sản xuất khá lớn ở trên thế giới, Mexico (1,6-1,8 triệu tấn/năm), Cộng hòa Dominican (400.000 tấn/năm), Peru (450.000 tấn/năm), Columbia, Chile, Brazin (160.000 tấn/năm), Indonesia (300-380.000 tấn/năm), China (120.000 tấn/năm), Việt Nam, hay ngay cả California, Hoa kỳ (100.000-160.000 tấn/năm); (Fruit Trop, số 255, 3/2018, trang 34).

Tuy vậy, nhóm West Indie này có số lượng xuất khẩu trên thế giới dừng lại ở khoảng 20.000-25.000 tấn/năm, so với giống Hass ghi nhận tăng 15% mỗi năm trong suốt ba, bốn năm qua, năm 2016 xuất khẩu của giống Hass được ghi nhận ở mức 1,7 triệu tấn/ năm (Fruit Trop, số 255, 3/2018, trang 32).

Hiện xuất khẩu bơ có với giá trung bình 32 đôla/thùng (11,1 kg).

Kết luận chung

Sự gia tăng sản xuất bơ của Trung Quốc tới đây được đánh dấu qua sự hợp tác giữa công ty Mr. Avocado (một công ty con của Mission Produce của Mỹ) và tỉnh Vân Nam để cùng sản xuất bơ.

Công ty liên doanh này có tên là Yunan Avocado Agriculture Development Limited (Fresh Plaza, 5/2018). Misssion Produce là một công ty lớn có nhiều chi nhánh ở các nước như Peru, nay mở thêm chi nhánh ở tỉnh Vân Nam.

Đó là cách làm rất hay, rút ngắn được khoảng cách quá xa giữa Trung Quốc và Mỹ về sản xuất bơ, tôi nghĩ đây là cách làm hay nước ta nên áp dụng.

Đã đến lúc chúng ta khẳng định vị thế của cây bơ ở Tây Nguyên cũng như một số vùng tiềm năng khác để phát huy lên mức cao nhất, bằng cách hợp tác với các công ty lớn trên thế giới, chọn những giống mới nhất trên thế giới đang còn bản quyền để trồng, trồng thẳng hàng như ở các nước tiên tiến, bảo vệ thực vật theo hướng sinh học và an toàn, thu hoạch đúng lúc, xây dựng một vài nhà đóng gói (packing house) to như ở Mỹ, Nam Phi, xây những kho ủ chín (ripening room) ở gần siêu thị, để trước mắt đủ sức cạnh tranh ở thị trường bơ cao cấp trong nước với các công ty nước ngoài.

Như hiện nay họ đang bán bơ Hass với giá trên trời là 300.000 đồng/kg, rồi từ từ tham gia xuất khẩu bơ Hass chất lượng và an toàn sang những nước gần mình như Thailand, Singapore, Hongkong, Trung Quốc…

Điều này hoàn toàn có thể làm được, nếu có doanh nghiệp lớn (trong nước hay nước ngoài) về đây cùng chung tay để việc sản xuất bơ ở Tây Nguyên sớm vượt qua khỏi cảnh lạc hậu về công nghệ (giống cũ, cây giống không sạch bệnh, giống gốc ghép không biết là giống gì, trồng xen với sầu riêng, thu hoạch khi trái chưa đạt độ chín, chưa có kho ủ chín) so với các nước trên thế giới.

TRẦN CAO (THEO NNVN)

Hướng Dẫn Bón Phân Cho Cây Lúa

Hướng dẫn bón phân cho cây lúa

Cây lúa là cây lương thực chính của nước ta, VN là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu lúa gạo, Những chú ý khi bón phân cho lúa sau đây sẽ giúp mọi người có cách nhìn khác về cách canh tác.

I. Những điều phải nhớ:

1. Nguyên tắc bón phân N: Nặng đầu nhẹ cuối

· Bón đạm (N) theo nguyên tắc BỐN, BA, HAI, MỘT

· 30-40% cho đợt 1 (7-10 NSS)

· 30-40% cho đợt 2 (18-20 NSS)

· 20% cho đợt 3 (đón đòng 40-50 NSS):khi có trên 2/3 ruộng lúa chuyển sang màu vàng tranh và nếu cần bón 10% cho đợt 4 lúc lúa trổ xẹt (60-70 NSS).

2. Nguyên tắc bón phân Lân (P):

· Bón sớm từ 0-22 NSS là dứt nếu ruộng có bị xì phèn thì cần thay nước, bón lân, xịt phân bón lá, chờ cho rễ ra trắng sau đó mới được bón Urê hay DAP.

3. Nguyên tắc bón phân Kali:

· Rất cần bón 50kg KCl vào đợt đón đòng, cho hiệu quả cao nhất. Trên đất xám, cát, gò rất cần bón thêm vào đợt 1 (7-10 NSS) 50 kg/ha KCl.

Kỹ thuật bón phân tham khảo

Phân bón(kg/ha) Ngày sau sạ
7-10 18-25 40-50
Urea: 200 40 80 80
DAP: 100 50 50
KALI: 100 50 50

II. Những điều nên làm:

· Không nên ham phân, đặc biệt là không nên bón thừa phân Urê, DAP vào cuối vụ (lúc lúa làm đòng trở đi).

· Bón đúng theo hướng dẫn: nặng đầu nhẹ cuối, bón đúng ngày và đúng loại, đúng lượng phân đã hướng dẫn.

· Nên bón lân nung chảy (Ninh Bình, Vân Điển) từ 200-400 kg/ha cho xám bạc màu, đất phèn (bón lót hoặc bón thúc đợt 1).

· Đối với phân đạm nên bón hơi thiếu đến vừa đủ sau đó bổ sung bằng phân bón lá.

III. Những điều không nên làm:

· Bón phân lai rai làm nhiều lần vì sẽ làm tăng nhánh vô hiệu, không có lợi.

· Bón nhiều phân đạm, vượt quá yêu cầu của cây dẫn đến lốp đổ, nhiều sâu bệnh.

· Bón phân lúc trời mưa hoặc ruộng khô nước.

· Bón phân SA trên đất phèn.

IV. Hướng dẫn quan trọng cho bón phân đợt 3:

· Bón phân đợt 3 (đón đòng): theo nguyên tắc nhìn trời, nhìn đất nhìn cây mà bón

Nhìn trời: trời mưa, trời âm u hoãn bón.

Nhìn đất: có đủ nước hay không, có bị xì phèn hay không. Chỗ trũng bón nhẹ tay (vì hưởng các chất dinh dưỡng trên gò trôi xuống), chỗ gò: bón nặng tay vì bị rửa trôi bớt.

Nhìn cây: ngày bón cụ thể là khi trên ruộng lúa có trên 2/3 cây lúa đã chuyển sang màu vàng tranh (dao động từ 45-50 ngày sau sạ đối với lúa 90 ngày, nên nhớ phải đợi lúa chuyển vàng mới bón; nếu đợi đến sau 45-50 ngày lúa vẫn còn xanh đậm thì chỉ bón 50 kg KCl và không bón một hạt Urê nào, vì nếu thừa Urê sẽ làm cho lúa lốp, lép nhiều về sau và sinh nhiều sâu bệnh. Lưu ý chỗ lúa qúa tốt không bón thêm đạm (chỉ bón độc nhất Kali); chỗ lúa tốt vừa: sương nhẹ; chỗ lúa xấu: bón nặng tay hơn.

Cách bón cụ thể:

Sử dụng 10 kg KCL bón vào những chổ lúa tốt, còn xanh. Sau đó lấy 40 kg KCL còn lại trộn đều với 40 kg Urê bón vào những chỗ còn lại theo nguyên tắc vá áo và nặng nhẹ đã nêu trên. Lưu ý, chỗ lúa tốt đã bón Kali rồi không bón thêm gì nữa.

Hướng Dẫn Bón Phân Cho Cây Cao Su

Bón phân cho cây Cao su

1. Kỹ thuật trồng:

Thời vụ trồng: cao su thường được trồng vào các tháng đầu mùa mưa khi thời tiết tương đối thuận lợi. Thời vụ trồng ở các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm và ở các tỉnh Đông Nam bộ từ tháng 6 đến cuối tháng 7 hàng năm.Mật độ trồng: Tùy theo từng loại đất và địa hình mà bố trí cho phù hợp. Thông thường khoảng cách 7 x 3 m hoặc 6 x 3m hoặc 7 x 2,5 m, tương ứng với mật độ 476, 555 và 571 cây/ha.

2. Nhu cầu và vai trò các chất dinh dưỡng với cây cao su

Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng, đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng. Lân có vai trò quan trọng với cây cao su, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây non yếu, được cải thiện khi cây trưởng thành. Kali có vai trò quan trọng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất mủ của cao su. Ngoài các chất dinh dưỡng đa lượng, cây cao su hút nhiều chất trung lượng như: Canxi, magiê, lưu huỳnh và các chất vi lượng như: Mangan, sắt, bo, molypđen, kẽm, đồng.Ở giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB), cây cao su (CS) cần dinh dưỡng để phát triển rễ, thân, cành, lá. Trong điều kiện đầy đủ các chất dinh dưỡng, cây phát triển nhanh, rút ngắn thời gian KTCBỞ giai đoạn kinh doanh (KD), cây vừa tăng trưởng vừa sản xuất mủ, trái, hạt lại phải thay lá hàng năm. Khi được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cây sẽ có bộ tán tốt, tạo sự quang hợp cao giúp cây tăng trưởng nhanh, kháng được các loại sâu bệnh và cho sản lượng cao. Những năm gần đây, do có sự chăm sóc tốt hơn, năng suất mủ qui khô đã tăng nhanh, đạt 2 – 2,5 tấn/ha/năm. Mặc dù dinh dưỡng cây lấy đi theo sản phẩm không nhiều, nhưng nhu cầu dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển khá cao. Để cho 3 tấn mủ ha/năm, cây cao su đã hút đi 18,9 kg N, 3,8 kg P2O5, 12,9 kg K2O; Tuy nhiên khi dùng thuốc kích thích cũng với năng suất 3 tấn mủ lượng dinh dưỡng cây lấy đi theo năng suất mủ là 18,9 kg N, 8,7 kg P2O5, 15,5 kg K2O

2.1 Liều lượng phân hóa học bón cho cao su:
Phân bón cho cây cao su trong thời kỳ kiến thiết cơ bảnBảng 8: Lượng phân cho cao su thời kỳ KTCB thay đổi tùy theo mật độ trồng và tuổi cây

Mật độ(cây/ha) Năm tuổi Tổng lượng phân Kg/ha/năm ĐạmUrê Lân VĐ Kali Clorua
Kg/ha g/cây Kg/ha g/cây Kg/ha g/cây
476 1 215 50 105 150 315 15 32
2 510 120 252 360 756 30 63
3 – 6 600 140 194 420 882 40 84
512 1 215 50 98 150 293 15 29
2 510 120 234 360 703 30 59
3 – 6 645 150 293 450 879 45 88
571 1 215 50 90 150 270 15 27
2 470 110 198 330 595 30 54
3 565 130 234 400 721 35 63
4 – 8 610 140 252 430 753 40 72

Phân bón cho cây cao su trong thời gian khai thác Bảng 9: Liều lượng phân hóa học bón cho cao su khai thác theo mật độ và năm khai thác

Năm cạo Cây/ha Loại đất Đạm Lân Kali clorua
Kg/ha g/cây Kg/ha g/cây Kg/ha g/cây
1-10 350-500 Đất đỏ ban zan 114-163 326 245-350 700 87-250 250
Đất xám 136-195 390 308-440 880 105-150 300
11-20 350-500 Đất đỏ ban zan 152-217 435 288-411 823 70-100 200
Đất xám 175-250 500 350-500 1000 87-250 250

Ghi chú (* lân Văn điển)

2.2 Thời kỳ và phương pháp bón

  • Phương pháp bón phân cho cao su ở thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Phân vô cơ được chia bón làm 2 – 3 đợt trong năm. Năm đầu tiên thời gian giữa các lần bón phân cách nhau ít nhất 1 tháng. Năm thứ hai trở đi bón vào đầu và cuối mùa mưa.Cách bón: Bón phân khi đất đủ ẩm, không bón phân vào thời điểm có mưa lớn và mưa tập trung. Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư: Cuốc rãnh hình vành khăn hoặc xăm nhiều lỗ quanh gốc cao su theo mép của tán lá để bón phân, sau đó lấp đất vùi phân. Khi cây cao su đã giao tán: Đất bằng phẳng hoặc ít dốc thì rải đều phân thành băng rộng 1 m giữa hàng cao su. Đối với đất dốc thì bón vào hệ thống hố giữ màu và vùi kín phân bằng lá, cỏ mục hoặc đất.

  • Phương pháp bón phân cho cao su trong thời kỳ khai thác

Phân vô cơ đươc chia làm 2 lần/năm, lần đầu bón 2/3 lượng phân N và K và toàn bộ lân vào tháng 4, 5 (đầu mùa mưa) khi đất đủ ẩm, lần hai bón lượng còn lại vào tháng 10.

Cách bón: Trộn kỹ, chia, rải đều lượng phân thành băng rộng 1 – 1,5 m giữa luống cao su. Đối với đất có độ dốc trên 15% thì bón vào hệ thống hố giữ màu và vùi lấp kín phân bằng lá, cỏ mục hoặc đất.